Tư tưởng của Khổng Tử về “đức – tài”

Tư tưởng của Khổng Tử về “đức – tài” như thế nào? Khổng Tử là người coi trọng Đức và Tài. Cũng chình vì vậy trong các cuốn sách của mình ông bày tỏ rõ tư tưởng về vấn đề này. Đó được coi là tư tưởng có nhiều tích cực so với thời điểm bấy giờ. Đặc biệt cho đến nay thì nó vẫn là những bài học rất tiến bộ. 

Nguồn gốc của tư tưởng “tài”, “đức”

Khổng Tử sống trong thời đại Xuân Thu loạn lạc. Tận mắt chứng kiến những trái ngang của cuộc đời, Khổng Tử đã phải thốt lên rằng. Xã hội thời ông lâm vào tình trạng “lễ hoại, nhạc băng” (lễ nhạc đã bị huỷ hoại). Trăn trở kiếm tìm nguyên nhân của sự suy đồi trong xã hội. Khổng Tử nhận thấy rằng, tất thảy đều do con người không có đạo đức (vô đạo) mà ra. Chính vì vô đạo nên xã hội mới đại loạn, mới không có trật tự trên dưới.

Nguyện vọng thiết tha của Khổng Tử là đưa xã hội quay trở về thời Nghiêu Thuấn. Đó là thời đại thái bình thịnh trị đến mức lý tưởng. Ở đó, nhà cửa không cần phải khoá, vật rơi không ai nhặt. Đó là thời vua thánh – tôi hiền, cai trị bằng đạo đức chứ không phải bằng bạo lực.

Tư tưởng của Khổng Tử

Trăn trở để đưa xã hội về thời hoàng kim

Để đưa xã hội quay trở lại thời đại hoàng kim ấy, Khổng Tử đã coi đạo đức như một phương tiện hữu hiệu nhất. Với tâm thế ngợi ca những người sống có đạo đức. Khổng Tử đã đưa ra mẫu người lý tưởng về đạo đức (người toàn thiện). Theo Khổng Tử, đức lớn mà người quân tử cần phải có bắt nguồn từ Trời.

Trời vốn không tư lòng, đã phú cho con người cái nhân tính cao đẹp. Sự cách biệt đó là do “hàm lượng” nhân tính mà trời phú còn lại trong mỗi con người không giống nhau. Trong suy nghĩ của Khổng Tử, con người giữ được nhân tính trời phú. Không ngừng tu dưỡng để trở thành người lý tưởng gọi là bậc quân tử. Đức của người quân tử cũng chính là phương pháp để con người tu dưỡng bản thân. Từ đó, ông dành cả cuộc đời mình để đào tạo người quân tử, coi đó như một động lực hữu hiệu để níu kéo chế độ nhà Chu đang trên đà suy sụp.

Thế nào là người có đức?

Khổng Tử đặc biệt nhấn mạnh đến các phẩm chất đạo đức. Đồng thời ông quy chúng thành những tiêu chuẩn cơ bản. Đó là Nhân, Trí, Dũng. Trong đó, nhân đóng vai trò căn bản, cốt lõi. Khi Phàn Trì hỏi về người nhân, Khổng Tử nói: “[Đó là người biết] yêu người”. Hỏi về người trí, ngài bảo: “[Đó là người] biết người”. 

Chữ nhân trong học thuyết của Khổng Tử phản ánh mối quan hệ xã hội sâu sắc. Bao hàm nhiều nghĩa mà trước hết là đạo trung thứ. Tức là điều gì mình muốn đạt thì cũng làm cho người khác cùng đạt. Điều gì mình không muốn thì không nên làm cho người khác. Đó là thái độ ứng xử thiện tâm, biết suy ta ra người để yêu thương người. Biết giúp đỡ người và quan trọng hơn, là không hại người. 

Tư tưởng của Khổng Tử về trí

Theo Khổng Tử, để có được trí, con người phải tu dưỡng theo lối “khắc kỷ phục lễ vi nhân”. Đó là vui thích với lục nghệ (ngự, xạ thư, số, lễ, nhạc). Nội dung của trí chỉ gói gọn trong các kinh điển của người xưa (Thi, Thư, Lễ, Dịch và Xuân Thu). Khổng Tử muốn nhà cai trị trở thành sao Bắc đẩu. Song ngôi sao đó chỉ toả sáng trên bầu trời đức trị, không trực tiếp dẫn dắt dân trên con đường giàu có về vật chất, mạnh về tinh thần. Khi Phàn Trì xin học về nghề trồng lúa, Khổng Tử nói: “Ta không bằng ông lão nhà nông”. Xin học nghề làm vườn, Khổng Tử nói: “Ta không bằng ông lão làm vườn”. Phàn Trì ra khỏi, Khổng Tử nói: “Tiểu nhân thay ngươi Phàn Tu! Người trên chuộng lễ, ắt dân chẳng ai dám không cung kính. Người trên chuộng nghĩa, ắt dân chẳng ai dám không phục. Người trên chuộng chữ tín, ắt dân chẳng ai dám không thật lòng. 

Tư tưởng của Khổng Tử về mối quan hệ giữa nhân và trí

Khi nói về mối quan hệ giữa nhântrí, Khổng Tử cho rằng, “Người nhân an vui với điều nhân. Khéo biết lợi dụng lòng nhân để đem lại lợi ích cho mọi người thì gọi là trí mà thôi”. Nói “người nhân” để xử vào cảnh nghèo túng, “người trí” để xử vào cảnh lạc thú. Như vậy, nhờ có trí người quân tử mới phân biệt được đúng sai, phải trái. Mới biết cách đối xử có nhân, có lòng dũng cảm để làm tròn đạo lý. Khổng Tử cũng nhấn mạnh rằng, nếu không có trí thì nhân cũng không thực hiện được.

Khổng Tử tập trung vào ứng xử trong phạm vi “Ngũ luân” – năm mối quan hệ. Đó là Vua – tôi, Cha – con, Chồng – vợ, Anh – em, Bè – bạn. Lấy đối tượng “gia đình” làm hạt nhân, nền tảng cho các quan hệ khác. Có thể nói, tài trí mà Khổng Tử muốn đề cập tới là năng lực ứng xử theo các quan hệ đẳng cấp nhất định. Điều đó đòi hỏi người quân tử phải biết mệnh, chính danh để trở thành người cầm quyền.

Tư tưởng của Khổng Tử về lòng dũng cảm

Khổng Tử quan niệm về dũng như là lòng dũng cảm, xả thân vì việc nghĩa. Khổng Tử cho rằng, để là người nhận thì cần phải có dũng. Bởi nếu không có lòng dũng cảm thì không thể giúp người được. Không thể thực hiện được mục đích của mình. Tuy vậy, ông cũng cho rằng, người có dũng chưa chắc đã phải là người nhân. Quan tâm đến dũng nhưng Khổng Tử vẫn nhấn mạnh đến nhân nghĩa. Tử Lộ hỏi: Người quân tử có quý trọng dũng không? Khổng Tử trả lời: “Người quân tử quý trọng điều nghĩa hơn. Người quân tử có dũng mà không có nghĩa thì làm loạn. Kẻ tiểu nhân có dũng mà không có nghĩa thì làm trộm cướp”. Chứng tỏ rằng, dũng trong tư tưởng của Khổng Tử thuộc nội hàm của khái niệm đạo đức – tinh thần.

Khi bàn đến “đức” và “tài” trong mẫu người lý tưởng – người quân tử. Khổng Tử đặc biệt nhấn mạnh đến mặt đức (nhân). Còn về mặt tài (trí) thì ông có bàn đến nhưng vẫn còn mờ nhạt. 

Những lời than phiền của Khổng Tử cho thấy, ông đã bất lực trong việc xây dựng mẫu người quân tử. Lý tưởng về một mẫu người “toàn thiện” mà ông dày công xây dựng chỉ là không tưởng. Bởi xã hội thời ông sống đầy bất công, mọi trật tự xã hội đã bị đảo lộn, chiến tranh liên miên. Người ta tranh giành đất đai và quyền lực mà bất chấp tất cả đến nỗi khi chứng kiến những cảnh đó, Mạnh Tử đã nói rằng: đánh nhau giành đất, thây chất đầy đất. Đánh nhau giành thành thây chất đầy thành. Chính vì vậy, Khổng Tử luôn hoài niệm về cái thời xa xưa của Tam hoàng, Ngũ đế.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *